Vai trò không thể thiếu của chất xơ với người mắc bệnh tim mạch

Ngày càng có nhiều nghiên cứu về vai trò của chất xơ trong dinh dưỡng và sức khỏe, nhất là ảnh hưởng của chất xơ tới các chuyển hóa qua lại giữa chất sinh học trong cơ thể, qua đó thấy được tác động của chất xơ tới các một số bệnh mạn tính, đặc biệt là các bệnh tim mạch.


191

1. Chất xơ là gì?

Chất xơ là chất bã của thức ăn còn lại sau khi tiêu hóa, gồm các chất tạo thành vách tế bào và các chất dự trữ, bài tiết bên trong tế bào. Dựa vào ảnh hưởng của chất xơ tới cơ thể, chúng được phân loại thành 2 nhóm: Chất xơ thực phẩm (bao gồm các chất xơ không tiêu hóa được) và chất xơ chức năng (bao gồm các loại chất xơ có hiệu quả sinh học).

Chất xơ có nhiều trong các loại rau củ quả

Người ta cũng chia chất xơ thành 2 loại: Chất xơ hòa tan và Chất xơ không hòa tan: Chất xơ hòa tan trong chất lỏng vào đường ruột dưới dạng gel, thường có ở các loại rau, quả độ nhớt cao : rau đay, rau mồng tơi, thanh long, … Chất xơ không hòa tan: không hòa tan trong chất lỏng khi vào đường ruột, thường gặp ở các loại hoa quả.

2. Công dụng của chất xơ trong cơ thể

Ảnh hưởng của chất xơ trên đường tiêu hóa chủ yếu qua 2 cơ chế: Độ nhớt của chất xơ và khả năng lên men của chất xơ.

Tại dạ dày: chất xơ không bị tiêu hóa bởi các enzyme nên còn nguyên vẹn, tính nhớt của chất xơ tan làm cho thức ăn dính lại thành một khối. Kết quả là thức ăn chậm di chuyển từ dạ dày sang tá tràng.

Tại ruột non, sự tạo khối của thức ăn dưới dạng gel hạn chế sự tiếp xúc của thức ăn với niêm mạc ruột vì thế giảm hấp thu các dưỡng chất, giảm chuyển hóa năng lượng, giảm chỉ số đường huyết của các bữa ăn.

Chất xơ giúp giảm hấp thu và có tác dụng nhuận tràng

Tại ruột già, tác động của chất xơ chủ yếu thông qua quá trình lên men, tạo ra các axit béo chuỗi ngắn, là nguồn năng lượng cho các vi khuẩn tại đại tràng và được cho là có vai trò trong phòng chống ung thư đại tràng. Còn các chất xơ có khả năng lên men kém sẽ tạo thành khối với khả năng hút nước cao, giúp nhuận tràng, chống táo bón.

3. Công dụng của chất xơ với bệnh tim mạch

Với các cơ chế như kể trên, chất xơ giúp giảm hấp thu các thực phẩm ăn vào, làm giảm cholesterol và triglycerite máu, điều hòa đường máu sau ăn. Trong khi đó, cholestetol, đường huyết cao chính là các nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh tim mạch sau này.

Như vậy nếu cung cấp đủ lượng chất xơ cần thiết sẽ giúp phòng, chống được các bệnh tim mạch như bệnh mạch vành, bệnh rối loạn chuyển hóa mỡ máu.

Chất xơ giúp giảm nguy cơ tim mạch

Theo FAO, cần có 14 g chất xơ cho mỗi 1.000 Kcal khẩu phần. Người ta cho rằng có thể đảm bảo được nhu cầu chất xơ đối với mọi lứa tuổi từ 24 tháng trở lên bằng cách mỗi ngày ăn 2 lần các loại quả, 3 lần hoặc hơn các loại rau. Số lượng mỗi lần ăn cần phù hợp với lứa tuổi. Với người Việt Nam, nhu cầu chất xơ khuyến nghị tối thiểu là 18 đến 20gam/ ngày (khoảng 300 gam rau /người/ngày và 100 gam quả chín). Nếu ăn quá nhu cầu chất xơ sẽ gây đầy hơi, chướng bụng, kém hấp thu một số chất vi khoáng, nhưng hoàn toàn không gây nguy hiểm. Tuy nhiên, theo Viện Dinh dưỡng, mức tiêu thụ rau xanh trong bữa ăn của người Việt Nam có xu hướng giảm tuy lượng quả chín có tăng lên. Vì vậy, việc tăng cường sử dụng thêm rau quả vẫn rất cần được quan tâm.

Nguồn: Tổng hợp

Nghi ngờ có dấu hiệu mắc bệnh?

Đừng ngại ĐẶT CÂU HỎI trực tuyến để được tư vấn miễn phí

 

Live Stream - Tư vấn sức khỏe

Bình luận

Có thể bạn quan tâm

 

Cẩm nang sức khỏe