6 nguyên tắc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý


657

Bạn có biết 20% – 50% kháng sinh sử dụng ở người không chắc chắn có hiệu quả điều trị? Việc lạm dụng sử dụng kháng sinh dẫn đến những hậu quả khôn lường? Vì vậy, lời khuyên đầu tiên từ Ecomedic dành cho bạn khi có vấn đề sức khỏe là nhận sự tư vấn từ các bác sĩ đồng thời ghi nhớ 6 nguyên tắc sử dụng kháng sinh sau đây để nhanh chóng khỏi bệnh.

1. Chỉ sử dụng kháng sinh khi thực sự nhiễm khuẩn

Chỉ sử dụng kháng sinh trong trường hợp nhiễm khuẩn

Chỉ có thầy thuốc điều trị dựa vào kinh nghiệm chữa bệnh, xét nghiệm, làm kháng sinh đồ mới xác định được có nhiễm khuẩn hay không. Các tác nhân gây bệnh cho người có thể là virus, vi khuẩn, nấm, sinh vật hoặc ký sinh vật (giun, sán,…). Các kháng sinh thông dụng chỉ có tác dụng với vi khuẩn, rất ít kháng sinh có tác dụng với virus, nấm gây bệnh, sinh vật đơn bào. Mỗi nhóm kháng sinh lại chỉ có tác dụng với một số loại vi khuẩn nhất định. Do đó, trước khi quyết định sử dụng một loại kháng sinh nào đó cần phải thực hiện các bước như:

  • Khám lâm sàng.
  • Hỏi bệnh, phỏng vấn và khám cho bệnh nhân. Đây là bước quan trọng nhất.

2. Lựa chọn đúng loại kháng sinh

Lựa chọn đúng loại kháng sinh

Nếu chọn dùng kháng sinh không đúng loại bệnh thuốc sẽ không có hiệu quả. Lựa chọn kháng sinh phụ thuộc vào 3 yếu tố:

  • Phù hợp với vi khuẩn gây bệnh: Tùy theo vị trí nhiễm khuẩn, thầy thuốc có thể dự đoán khả năng nhiễm loại vi khuẩn nào và căn cứ vào phổ kháng sinh mà lựa chọn thuốc thích hợp. Tuy nhiên độ nhạy cảm của vi khuẩn cũng tùy thuộc vào từng vùng. Vì vậy để sử dụng kháng sinh hợp lý thì cần phải biết độ nhạy cảm của kháng sinh tại địa phương cư trú.
  • Vị trí nhiễm khuẩn: Để điều trị thành công thì kháng sinh phải thấm vào được nơi nhiễm khuẩn.
  • Cơ địa bệnh nhân: Sự khác biệt của bệnh nhân đặc thù như trẻ nhỏ, người cao tuổi hoặc phụ nữ có thai,… đều có ảnh hưởng đến dược động học của kháng sinh. Những thay đổi bệnh lý như suy giảm miễn dịch, bệnh gan, thận làm giảm rõ rệt chuyển hóa và bài xuất thuốc gây tăng một cách bất thường nồng độ kháng sinh có thể dẫn tới ngộ độc và tăng tác dụng phụ của kháng sinh.

3. Phải có hiểu biết về cơ thể người bị bệnh

Cẩn trọng khi cho trẻ dùng kháng sinh

Kháng sinh là một trong những nhóm thuốc có nguy cơ gây dị ứng rất cao, do đó những bệnh nhân có cơ địa dị ứng thì cần đặc biệt chú ý. Với trẻ em, các kháng sinh chống chỉ định không nhiều nhưng hầu hết đều phải hiệu chỉnh lại liều theo lứa tuổi. Ðặc biệt đối với các phụ nữ có thai, người già, người bị suy gan, suy thận chỉ có thầy thuốc điều trị mới có đủ thẩm quyền cho sử dụng kháng sinh.

4. Dùng kháng sinh đủ thời gian, đúng liều, đúng cách

Tùy theo loại bệnh và tình trạng bệnh thời gian dùng kháng sinh có khi dài khi ngắn nhưng thông thường là không dưới 5 ngày. Trên thực tế không có quy định cụ thể về độ dài của đợt điều trị với mọi loại nhiễm khuẩn nhưng nguyên tắc chung là:

  • Sử dụng kháng sinh đến khi hết vi khuẩn trong cơ thể, thêm 2-3 ngày ở người bình thường và thêm 5-7 ngày ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Thực tế thì ít khi có điều kiện để cấy vi khuẩn sau khi điều trị, do đó coi là hết vi khuẩn khi bệnh nhân giảm sốt, trạng thái cơ thể cải thiện như: ăn ngủ ngon, cơ thể tỉnh táo …
  • Với nhiễm khuẩn nhẹ, đợt điều trị thường được kéo dài khoảng 7-10 ngày, nhưng với nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn ở những tổ chức mà kháng sinh khó thâm nhập như: màng tim, màng não, xương… thì đợt điều trị phải kéo dài hơn; riêng với bệnh lao, phác đồ điều trị ít nhất cũng phải 8 tháng.

5. Chỉ phối hợp nhiều loại kháng sinh khi thật cần thiết

Phối hợp nhiều loại kháng sinh khi thật cần thiết
  • Tăng tác dụng lên các chủng đề kháng mạnh: Trường hợp này được sử dụng cho điều trị nhiễm khuẩn mắc phải ở bệnh viện hoặc những trường hợp bệnh đã chuyển thành mãn tính do điều trị nhiều lần không khỏi.
  • Giảm khả năng kháng thuốc hoặc tránh tạo những chủng vi khuẩn đề kháng: Phối hợp kháng sinh với mục đích này thường được áp dụng khi điều trị các bệnh nhiễm khuẩn kéo dài.
  • Nới rộng phổ tác dụng của kháng sinh: Đa số các kháng sinh thông dụng không có tác dụng hoặc tác dụng yếu lên các vi khuẩn kỵ khí, đặc biệt là các chủng vi khuẩn kỵ khí Gram âm, do đó việc phối hợp kháng sinh chủ yếu để diệt vi khuẩn kỵ khí.
  • Những trường hợp không được phối hợp kháng sinh: Trong trường hợp bắt buộc phải phối hợp thì phải có các biện pháp theo dõi chặt chẽ để xử lý tai biến kịp thời.

6. Phòng ngừa hợp lý bằng kháng sinh

Chỉ có những trường hợp đặc biệt thầy thuốc mới cho dùng thuốc kháng sinh để phòng ngừa. Thí dụ, dùng kháng sinh phòng ngừa trong phẫu thuật do nguy cơ nhiễm khuẩn hậu phẫu. Hoặc người bị viêm nội mạc tim đã chữa khỏi vẫn phải dùng kháng sinh để ngừa tái nhiễm

Bảo đảm được những điều trình bày ở trên cho thấy sử dụng kháng sinh hợp lý là vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có kiến thức và trình độ chuyên môn. Do vậy, chỉ nên sử dụng thuốc kháng sinh theo sự chỉ định của bác sĩ và theo sự hướng dẫn của y bác sĩ.

Nguồn: Tổng hợp

Nghi ngờ có dấu hiệu mắc bệnh?

Đừng ngại ĐẶT CÂU HỎI trực tuyến để được tư vấn miễn phí

Live Stream - Tư vấn sức khỏe

Bình luận

Có thể bạn quan tâm

 

Cẩm nang sức khỏe